Danh Mục:Tản mạn

Showing posts with label Tản mạn. Show all posts
Showing posts with label Tản mạn. Show all posts
Ở thành phố trung thu dường như đến rất sớm. Trước trung thu tầm một tháng đã thấy những sạp bán bánh được dựng lên trên các con đường, đèn lồng được bày bán khắp mọi nơi, phố phường như được khoác lên mình sắc màu đỏ rực làm nao lòng biết bao con người.



Từ xưa, cái tết trung thu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt. Trung thu không chỉ còn là tết của thiếu nhi mà nó đã trở thành ngày sum họp, quây quần bên nhau của các thành viên trong gia đình. Trong không khí ấm áp ấy, ánh trăng dường như cũng lung linh huyền ảo đến lạ!
Nhớ cái hồi còn nhỏ, lũ con nít trong xóm tôi rất mong tới trung thu. Trước trung thu vài ngày là cả bọn tụm năm tụm ba làm lồng đèn. Đứa thích hình ông sao, đứa lại thích hình cá vàng, thế là mỗi đứa thỏa sức sáng tạo ra đủ mọi hình thù, đến lon sữa bò đục lỗ gắn vào một cái cây đẩy đi cũng trở thành lồng đèn.

Vui nhất là đêm về, cả lũ kéo nhau cầm lồng đèn đi chơi khắp xóm. Từng tốp từng tốp họp nhau lại đi thành một đoàn dài, cứ thế len lỏi khắp làng cho đến lúc trăng cao quá đỉnh, tiếng cười đùa lại vang lên khắp nơi. Những lúc ấy, lũ trẻ chúng tôi được thỏa sức vui chơi, phá cỗ, cùng nhau hát hò tới tận khuya. Người lớn thì quây quần bên bàn trò truyện rôm rả, thỉnh thoảng lại nhấp một ngụm trà, ăn một miếng bánh và cùng nhau ngắm trăng.
Trung thu trong tôi là ánh trăng tròn dìu dịu vừa lên bên bến cá xưa, là những tiếng trống múa lân náo động cả một góc xóm làng, là tiếng cười đùa giòn giã của trẻ thơ, là vị bánh ngon béo Trung thu mà con nít rất mong chờ. Là những phần quà mà những người lớn trong xóm tặng cho lũ trẻ chúng tôi, những tiệc trà trong xóm...

Lớn lên, trung thu của cuộc sống hiện đại, những chiếc đèn lồng ông sao được thay bằng những chiếc đèn lồng nhựa đủ mọi hình thù, cũng không còn cảnh tụi nhỏ túm tụm kéo nhau đi chơi trăng nhưng những ký ức về trung thu mãi vẫn ngọt ngào và ấm áp trong tim… Để rồi mỗi mùa trung thu về, một miền ký ức trong tôi lại trào dâng - ký ức mùa trung thu.
Gần mùng 5 tháng 5 Âm lịch rồi, tự nhiên nhớ nhà kinh khủng.
Mùng 5, mẹ đem toàn bộ đồ đạc trong nhà ra phơi nắng giữa Ngọ , Mẹ bảo rằng nắng mùng 5 là thơm nhất, sẽ xua đi tất cả mùi ẩm mốc, đem lại hương nắng tinh sạch vào mọi ngóc ngách trong nhà.
Mùng 5, Ba đi quanh vườn chặt lá ổi, lá chanh,nhiều loại lá nữa, mỗi thứ một ít, phơi nắng mùng 5 rồi nấu nước uống, nước lá mùng 5 cho tan hết những mệt mỏi, muộn phiền.
Mẹ cũng sẽ nấu một nồi nước lá thật lớn, gọi mấy anh em tắm gội sạch sẽ , mẹ nói làm vậy sẽ tránh được bệnh tật.
Nhà không nuôi nhiều vịt, ba nói chỉ nuôi vài con để dành đến Mùng 5, anh chị em mình lại quây quần về bên nhau, đứa bắt vịt, nhổ lông, đứa hái rau, nhuốm lửa. Món thịt vịt luộc thơm lừng , gắp từng miếng chấm nước mắm gừng , ăn với vài lát chuối chát , khế chua xắt mỏng, rau ngò gai, rau quế , rau ngũ điếc. Ôi, thèm quá đi thôi.

Mẹ sẽ lấy phần lòng vịt xắt ra, xào lên thật là thơm để nấu cháo, mùi gạo mới quyện trong mùi vịt thơm lừng , luôn kê mũi hít hà bát cháo , cho cái mùi chạy tận vào từng thớ của khứu giác, kích thích xuống vị giác, rồi mới xùm xụp húp lấy. Cái kiểu ăn của trẻ con luôn ngon như thế đó.
Mợ Bốn rất khéo tay, mùng 5 nào Mợ cũng  gói những cái bánh ú tro nhỏ xinh, cách làm bánh ú tro nghe đâu cũng khá là phức tạp, mình không biết làm, chỉ khoái chí khi lột lớp lá ra, nhìn cái bánh vàng óng , đưa vào miệng cắn một miếng, một vị ngai ngái nồng rất đặc biệt, chấm 1 chút đường và nhai từ từ để vị ngọt thanh thanh quyện vào lưỡi, ngon ơi là ngon.
Từ khi vào miền Nam sống, dù vẫn thấy người ta ăn mùng 5, cũng có bánh ú tro, nhưng sao vẫn không tìm lại được cái cảm giác như những ngày xưa.Nhớ từng khoảnh khắc của cái hương mùng 5 những ngày thơ bé, nghe cay nơi sống mũi quá chừng.
Ước chi có ngay cánh cửa thần kỳ của Doraemon, để về nhà sum họp với người thân trong cái Tết Đoan Ngọ này.

Blogger Cổ Tích

Khắp các nơi ở Quảng Ngãi, Quảng Nam, rồi ra đến Đà Nẵng, cứ tới ngày Tết Đoan Ngọ, lại nghe hàng rong lanh lảnh rao mời: “Bánh ú tro đây! Bánh ú tro Hội An đây!...”. Món bánh ngày Tết diệt sâu bọ mang “thương hiệu” phố Hội bao giờ cũng hấp dẫn người mua.

Bánh ú tro - hương vị Tết Đoan Ngọ phố Hội
Ở Hội An, có nhiều nhà nghề làm bánh ú tro truyền từ đời này sang đời khác. Cái nghề chỉ kiếm ăn được dăm ba ngày trước sau Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch), nhưng trăm năm không “lụt” nghề (mất nghề).
Để làm bánh ú tro phải chuẩn bị các nguyên liệu, “đúng điệu” phải là lá đót mua lại của những người chuyên đi hái lá rừng ở vùng đèo Hải Vân (đèo nối liền giữa hai tỉnh, thành Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng), lạt buộc, nếp mới tháng ba của vụ xuân, tro vôi để lọc nước ngâm nếp gói bánh thường là tro đốt thân cây mè.
Cứ 3 tro một vôi bỏ vào trong nước. Nước tro vôi ở Hội An, nghe nói nhiều nhà nghề phải lấy cho được nước giếng Bá Lễ ở ngay trong phố cổ, đem về lọc nước tro vôi mới cho chiếc bánh có vị thanh ngọt lạ lùng. Nước tro vôi để cho lắng cặn, chừng nào lớp nước ở trên trong veo thì mới chắt ra để ngâm nếp. Công đoạn ngâm nếp, hay còn gọi là cho “nếp ăn” thường mất hơn nữa ngày rồi mới bắt đầu gói bánh.
Bánh có khối hình tam giác. Cho nếp vào lá đốt, rồi gấp mép lá tạo khối hình tam giác sao cho thật khéo, không chặt quá, cũng không lỏng quá. Nếu gói bánh chặt thì bánh nấu ra sẽ bị chai, gỏi bánh quá lỏng, bánh lại bị nhão vì ngấm nước nấu bánh. Bánh gói xong đem cho vào nồi náo, canh lửa to, chừng khoảng 5 - 6 giờ đồng hồ thì bánh chín.
Ở nhiều nơi, trong ngày Tết Đoan ngọ cũng làm bánh ú tro, nhưng thường làm nhân đậu xanh, ở miền Nam lại có nhân sầu riêng, nhưng bánh ú tro Hội An thì không có nhân, chỉ thuần là bánh nếp ăn tro vôi. Bánh không có nhân mà lạ lùng lại có vị ngọt thanh, ăn vào vừa mềm lại vừa dòn dai. 
Bánh không có nhân nhưng lại có vị ngọt thanh của nếp ăn tro vôi
Chiếc bánh nhỏ xíu, bóc lá lấy bánh ra xong lại chấm thêm ít đường cát, cũng có nơi chấm bánh với mật mía. Món ngon thanh đạm vậy thôi mà câu chuyện gia đình quanh mâm cơm ngày Tết mùng năm xôm tụ hắn lên. Mùng 5 mà không có bánh ú tro thì không phải lài mùng năm.
Người biết bài quê ở Hội An. Ngày còn đi học xa nhà, ngày mùng 5 cả hội đồng hương quây quần bên nhau, tự nhiên lại có người bạn ở quê mang vào cho mấy xâu bánh ú tro. Chia nhau mỗi người 1 - 2 chiếc chứ không được ăn bánh thỏa thuê như khi ở quê nhà, cầm bánh trên tay mà ai ai cũng nhớ nhà trong hương vị Tết Đoan Ngọ của phố Hội.

Khánh Hiền
(sưu tầm)
Cứ đến khoảng giữa trưa ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, người dân ven biển Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) lại đổ xô đi tắm biển… xả xui.

Theo tục lệ cứ vào lúc 12h ngày 5/5 âm lịch (Tết Đoan Ngọ), hàng ngàn người dân Sa Huỳnh lại đổ xô ra biển tắm để mong xả hết xui xẻo trong năm.

 

Dưới cái nắng 39-41 độ C, nhưng bờ biển kéo dài từ bãi tắm KDL Sa Huỳnh đến cửa biển, vào trong khúc sông chật kín người chen chúc nhau tắm biển xả xui.



Đối với người dân Sa Huỳnh, không kể già trẻ, gái trai đều tự chuẩn bị tinh thần để chờ đến giờ ra biển tắm, trừ những người bệnh tật không ra biển được vào giờ nắng nóng thì người nhà họ sẽ mang nước từ biển về nhà và đổ vào thau cho người đó nhìn vào rồi ngửa mặt lên trời tự cầu an cho bản thân.


Nhiều người tin rằng nước biển sẽ cuốn phăng đi mọi xui rủi vào ngày tết Đoan ngọ

Người dân Sa Huỳnh luôn quan niệm, vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) tết Đoan ngọ, nước biển sẽ cuốn phăng những xui xẻo, phiền toái, rắc rối và đem đến nhiều may mắn.



Cao điểm nhất là lúc 12h, bãi biển đông nghịt người như đi hội.

Bài: MC
Nguồn Ảnh: facebook Làng Xì Trum - Sa Huỳnh
Nằm trên con đường Trần Mai Ninh (gần ngã tư Bảy Hiền, quận Tân Bình, Tp. HCM), chợ Bà Hoa được biết đến như là khu vực tập trung đầy đủ các món ăn đặc sản của xứ Quảng. Đây là địa chỉ rất quen thuộc của những người con xứ Quảng xa quê khi muốn ăn những món ăn dân dã hay tìm một chút bóng dáng quê nhà. 
 
Chợ Bà Hoa, theo nhiều người dân buôn bán lâu năm ở đây kể lại được thành lập vào năm 1967 bởi một người phụ nữ tên Hoa. Ban đầu, bà mua mảnh đất này với mục đích cất một cái chợ nhỏ, phân lô cho nhiều người thuê lại để buôn bán tại chợ. Tuy nhiên, do khu vực này có rất nhiều người Quảng sinh sống nên dần trở thành chợ của người Quảng. 
 
Quê hương thu nhỏ
 
Hiện nay, chợ Bà Hoa được đổi tên thành chợ phường 11 và có nhiều đổi thay. Đặc sản và hàng hóa ở đây ngày càng đa dạng, phục vụ tốt hơn nhu cầu không chỉ của người miền Trung mà còn cho các vùng miền khác. Tuy vậy, chợ vẫn còn lưu giữ được những nét đặc trưng rất riêng, với khoảng 80% người bán và người mua đều sinh ra tại xứ Quảng.


Đủ các món đặc sản xứ Quảng được bày bán ở chợ.
 
Vừa bước vào cổng chợ, hàng loạt các bảng hiệu nhỏ giới thiệu đặc sản xứ Quảng được cắm khắp các gian hàng, hầu như không thiếu bất cứ một món gì. Từ mì Quảng, cá bống sông Trà đến những bịch hành tỏi tuy nhỏ mà thơm ở Lý Sơn hay những phong bánh nổ, bánh in, bánh thuẫn, bánh tráng nướng tại chỗ thơm giòn; từ những bịch kẹo gương, những lon mạch nha ngọt đậm đà đến các loại mắm “mặn mòi, cay điếng” như mắm cơm, mắm cà, mắm cá nục.
Ngay cả bánh đập cũng theo chân người xứ Quảng vào đây. Để rồi mỗi lần ghé chợ, người ta có thể nói với nhau những câu nói đặc sệt xứ Quảng như: “Mua mấy đập?”, “Một đập hay hai đập?”… Vì là chợ bình dân nên giá cả cũng rất phải chăng, một bánh đập có giá chỉ khoảng 6.000 đồng.
 
Đến chợ Bà Hoa, các chị em nội trợ còn có thể dễ dàng tìm mua những con cá nục bé xíu với giá 40.000 đồng/1 ký đem về hấp cuốn bánh tráng; cá ngừ  60.000/1 ký về chế biến món bún cá ngừ; cá chuồn giá 50.000đ/ký mua về nướng gập hoặc kho với cà chua.
 
Vào mùa này, chợ Bà Hoa tràn ngập cá chuồn.
 
“Hầu hết các món đặc sản đều được vận chuyển từ quê vào. Khi bán sắp hết, tiểu thương sẽ gọi điện về quê để đặt hàng và hàng sẽ có liền sau hai ngày. Do vận chuyển từ quê vào nên giá thành có đắt hơn chút đỉnh. Dẫu vậy, người mua vẫn rất tấp nập. Một số món làm tại Sài Gòn như mì Quảng, bánh đập đều do người Quảng tự chế biến nhưng vẫn giữ được những hương vị đặc trưng”, chị Đinh Thị Hoanh (quê ở Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) cho hay. 
 
Chợ hoạt động cả ngày nhưng tấp nập nhất vẫn là buổi sáng. Buổi chiều, chợ còn bán các món “ăn xế” dân dã như bánh xèo, bánh bèo, bánh bột lọc, gỏi mít trộn, lòng xào nghệ. 
 
Hồn quê
 
Chợ Bà Hoa tuy nhỏ nhưng rất tấp nập, đi hoài vẫn không thấy hết chợ. Đến với ngôi chợ nhỏ này, người xứ Quảng sẽ cảm thấy ấm lòng như đang đứng trên mảnh đất quê hương, còn người dân xứ khác sẽ tìm thấy nơi đây nhiều điều thú vị trong nếp ăn, nết ở của cộng đồng người Quảng.
 
Mùi bánh tráng nướng thơm lừng như níu kéo khách. Chợ Bà Hoa tạo ra nét văn hóa ẩm thực độc đáo của người Quảng trên đất Sài Gòn.
 
Ngoài các món đặc sản, không ít những người con xa quê tìm đến chợ Bà Hoa để được trò chuyện cùng bà con, được nghe giọng Quảng “khô khan” mà thân quen ấy. Chị Lê Thị Kim Anh (quê ở Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) cho biết: “Mười năm vào Sài Gòn sinh sống, mỗi tuần tôi đều cố gắng ghé chợ đều đặn ít nhất 4 lần để mua đồ ăn cho gia đình. Đi chợ Bà Hoa thích lắm, tất cả những món đặc sản ở quê chợ đều có. Vào chợ còn tha hồ nói giọng Quảng mà không sợ ai trêu và nhái lại”.
 
Có lẽ, với mỗi người con xứ Quảng xa quê sẽ không thể nào quên những hương vị đặc trưng của quê nhà ở ngôi chợ độc đáo này. Nó trở thành nơi lưu giữ hồn quê không lẫn vào đâu được của một cộng đồng người dân xứ Quảng, góp thêm một nét văn hóa truyền thống độc đáo cho đất Sài Gòn. Để rồi, khi nhắc đến chợ phường 11 ở quận Tân Bình có thể không mấy ai để ý, nhưng chợ Bà Hoa thì ở mãi trong tiềm thức của họ.
 
Bài, ảnh: Th.Hậu

Không lều bạt, không hàng quán, Hóc Mó êm đềm với một dải bờ biển hơn 3 km uốn lượn theo rặng dương xanh thẫm. Lâu lâu mới thấy lác đác mấy bóng ngư dân trên bãi, gợi một nét buồn cổ điển trong câu thơ xưa: 'Gác mái ngư ông về viễn phố'.

Hóc Mó, đêm thức cùng trăng 1

Đường cong lao xao

Hóc Mó - một trong những “góc biển” đẹp nổi tiếng trong quần thể du lịch biển Sa Huỳnh - cách trung tâm xã Phổ Thạnh (Đức Phổ, Quảng Ngãi) khoảng 10 phút đi xe máy.

Một nữ du khách trẻ người Bình Định vừa ghi cái tên “Hóc Mó” vào nhật ký phượt của mình vừa “luận” về cái tên này. Cô nói cái tên có vẻ… nguyên sinh, thô mộc, xù xì nhưng rất thực. Nó đẹp gấp nhiều lần những địa danh “nhấn nhá” do những nhà quản lý du lịch sính chữ đặt cho, như: biển Ngọc, bến Tình, bãi Hằng Nga… Có lẽ vì thế nên khi đã ghé một lần, không ai nói “Hóc Mó là nơi đến để rồi đi”.

Qua chiếc cầu Thạnh Đức bắc ngang dòng sông trong vắt, xuôi về hướng đông theo con lộ bê tông hai bên lòa xòa bóng tre xanh, bạn sẽ dừng chân nơi con đường gặp biển. Hóc Mó đấy! Bát ngát biển trời, xanh vời vợi những núi non.
Bãi cát nâu vàng vẽ một đường cong lao xao sóng trắng mà điểm dừng là gành Hóc Mó hoang sơ và thơ mộng. Từ “Hóc” được hiểu là cái vịnh nhỏ, nơi biển ăn khá sâu vào bờ. “Mó” là hình ảnh gành đá nhô ra biển, nhìn từ xa rất giống cái đầu con cá mó (còn gọi là cá nàng tiên hoặc cá hồng đào).

 Hóc Mó, đêm thức cùng trăng 3

Còn nhớ có một du khách từng hỏi cô gái địa phương rằng tên cá đẹp thế sao không gọi là “vịnh hồng đào” mà gọi là Hóc Mó? Cô gái tròn mắt, trả lời bằng một câu hỏi: "Bộ anh nghĩ cái tên Hóc Mó xấu lắm sao?" Anh du khách chỉ biết cười bẽn lẽn, thầm phục cô gái đáo để này.
Từ lâu, Hóc Mó là điểm cắm trại tuyệt vời cho học sinh vào dịp nghỉ hè, là nơi thăm thú, thư giãn cuối tuần của nhiều gia đình ở thị trấn Đức Phổ, thành phố Quảng Ngãi và Bình Định. Nhưng “thường trực” nhất vẫn là những nhóm bạn, những đôi bạn trong độ tuổi trăng tròn. Họ rong chơi giữa chiều hè gió nồm lồng lộng trong bóng rợp của rừng dương bạt ngàn tít tắp.

Có thể nói rừng dương nơi đây vẫn còn giữ được nét nguyên sơ. Từng lớp lá rụng đầy quanh những gốc dương. Lá mùa sau khẽ khàng rơi lên lá mùa trước như thời gian ấp ủ thời gian. Trong tán lá thì thầm gió xa khơi, nghe thiết tha nhịp điệu biển xanh. Chợt nghĩ, với vùng biển Hóc Mó tươi vàng nắng hạ này, có lẽ những cặp tình nhân chẳng phải nói chi nhiều bởi không gian nơi đây dường như được thiết kế bằng chất liệu của tình yêu.
Hóc Mó, đêm thức cùng trăng 2 
Biển vàng đêm Hóc Mó

Chủ nhật vừa rồi, nhóm bạn thời đại học từ thành phố Quảng Ngãi đến Hóc Mó hạ trại. Một thằng gọi cho mình nói: "Tụi tao về Sa Huỳnh thăm mày nhưng đang “lún” ở Hóc Mó. Mày có đến đây cho tụi tao thăm không thì nói dứt khoát một lời".
Trời, tụi nó từ xa tới còn hết mình với Hóc Mó cỡ đó, mình dân “sở tại”, không lẽ… Mình xỏ áo đi nhưng trong lòng hơi nghi ngại. Chiều tàn rồi, bọn nó gần về rồi, tí tởn gọi mình làm gì không biết. Tới nơi mới ngã ngửa. Tụi nó lều bạt bài bản, “hùng hồn” tuyên bố đêm không ngủ với Hóc Mó để chơi giữa mùa trăng.

Hóc Mó, đêm thức cùng trăng 4

Hóc Mó, đêm thức cùng trăng 5

Nói thật, nếu không có đám bạn chơi… bạt mạng kiểu này, mình không hề biết trăng trên biển Hóc Mó đẹp nhường kia. Ánh chiều còn vương vất, trăng đã nhú lên rồi. Mấy sợi mây mỏng tang vắt qua mặt trăng tan nhanh trong khoảnh khắc.
Trăng rắc phấn vàng trên biển đêm Hóc Mó. Trăng xôn xao hơn, dào dạt hơn vì chẳng có ánh điện nào quanh đây. Trăng vàng thắm. Cát vàng mơ. Trăng trên ghềnh trở nên huyền mị hơn bởi hàng trăm tảng đá kỳ hình dị dạng đổ bóng bên nhau. Trăng lung linh hơn bởi hàng triệu triệu lá dương óng ánh chải vào không gian nhè nhẹ gió. Một cặp thuyền nhỏ đỗ bên gành như hai chiếc lá sóng đôi giàn giụa ánh trăng.

Không gian bàng bạc trăng Hóc Mó đã khơi thơ và gợi nhạc. Anh bạn ở tỉnh đoàn Quảng Ngãi khẽ đọc:

 “Em đừng nói yêu trăng và yêu biển. Khi lòng mình chưa có sóng bên trong”.

 Cô phóng viên phòng văn nghệ đài tỉnh bất chợt thả từng tiếng ghi ta:                     
"Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không?"


Không ai bảo ai, chúng tôi đồng ca. Biển ngoài kia ầm ào đồng vọng. Đêm vơi. Trăng cũng tàn. Nhưng cảm xúc dịu êm và dữ dội, bất chợt và sâu lắng từ đêm trăng giữa biển trời Hóc Mó cứ âm thầm lan tỏa mãi.

Phượt ký của Trần Cao Duyên

Sa Huỳnh (H.Đức Phổ, Quảng Ngãi) là miền gió cát. Mùa hè có thêm “món” nắng đến úa lá vàng cây. Nơi đây, tôi gặp những bà mẹ trẻ lầm lũi phơi cá dưới cái nắng như nung, lo tiền cho con lên giảng đường.

Ngại nắng… trắng tay

Phơi cá dưới trời nắng gắt - Ảnh: Trần Cao Duyên
Chị Đẹp, 36 tuổi, cùng với các “đồng sự” của mình bưng những rổ cá đã xẻ và tẩm ướp xong, lón thón chạy ra bãi cát, nơi những chiếc nong tre trống không đang chờ “ăn” cá. Cá bây giờ đã thành những miếng thịt na ná nhau nên không phân biệt được cá gì. Nghe chị Đẹp giải thích, tôi mới hiểu “tiền thân” của mớ thịt này là cá sơn, cá phèn, cá đổng, cá chình, cá đuối, cá liệt… Một phần bán tươi tại chỗ, một phần được các chủ vựa xẻ phơi khô. Hàng trăm lao động nữ được thuê làm công việc này. Mỗi ngày có đến chục tấn cá “ướp nắng” từ cửa biển Sa Huỳnh xuôi nam, ngược bắc, lên cả Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum…
Thấy tôi giơ máy ảnh lên, chị Đẹp xua tay cười, nói: “Đừng đừng… Tui tên Đẹp nhưng người xấu đui xấu điếc, anh chụp làm gì…”. Hơi lúng túng, tôi nói một câu sặc mùi sách vở: “Tôi chụp là chụp vẻ đẹp trong cái dáng tảo tần của chị”. Chị vặn ngay: “Cực thì nói cực cho rồi, tảo với tần gì hổng biết. Đúng là mấy ông… văn minh trình độ. Mà nè, cho tui hỏi, cực thì làm sao đẹp được?”. Thấy tôi cười gượng, chị xuề xòa ngay: “Nói cho dzui chớ chụp đi. Nhớ cho tui một tấm nghen”.
Mới 9 giờ sáng mà nắng muốn cháy da. Nón lá mong manh, không khẩu trang, không găng tay, chị Đẹp nhanh nhẹn xếp cá lên nong. Bóng chị đổ xuống, chờn vờn, đen đậm những nét đời cơ cực. Tôi bắt chuyện và cảm thấy chị rất vui khi có người “dám” dang nắng để sẻ chia cùng chị.
Chị nói mùa phơi cá từ sau tết đến tháng bảy tháng tám. Càng nắng miếng cá càng thơm ngon. Tụi tui được trả thù lao theo sản phẩm. Làm dở thì cỡ trăm, trăm rưỡi nghìn. Giỏi thì hai trăm, có khi hai trăm rưỡi hoặc hơn. Ai ngại nắng thì… trắng tay. Cái nghề phơi cá phải kiêm luôn… phơi người. Ớn nhứt là lúc trở cá. Trời nắng như đổ lửa cũng mặc kệ, cứ phải tỉ mẩn trở từng miếng cá cho nắng “thấm” đều. Cá khô, da người cũng héo. Mệt nhất là trở cá mà còn sót, miếng cá bên khô bên ướt, bị chủ trừ tiền công. Buồn năm phút rồi thôi. Nhưng khi bị chủ cho là ăn gian làm dối thì cả tuần cũng chưa hết “dị” (xấu hổ).
Con lên giảng đường, mẹ ra bãi nắng
Mấy phút nghỉ hiếm hoi dưới gốc cây trứng cá, chị Đẹp cùng mấy chị nữa, cũng là “phơi thủ”, ngồi ăn phồng tôm, uống nước lã. Điều lạ là chị nào cũng vui và hóm. Họ nói bãi phơi cá là… trung tâm tàn phá dung nhan. Họ tự nhận mình là “dân đen” với hai nghĩa: thường dân lam lũ và da đen như dân châu Phi.
Chị Đẹp nói ngồi đây có bốn năm chị có con đang học cao đẳng, đại học ở Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng. Riêng chị “dính đòn” nặng nhất: Con học ở TP.HCM, trăm bề tốn kém. Nhưng chị cười, nói cái bằng cử nhân của con tui… to hơn mấy cái bằng học ở “đêm buồn tỉnh lẻ”.
Chị Mười nói chừng nào con tui lấy bằng tốt nghiệp, tui cũng lấy bằng… phơi cá luôn. Mà tui lo quá mấy mẹ ơi. Bây giờ tốt nghiệp rồi thất nghiệp, dễ thành… xấu nghiệp lắm. Chị Nhẫn cười cười, nói tới đâu hay tới đó. Trước mắt là bán mặt cho cát, bán lưng cho trời để nuôi cử nhân cái đã. Chị Nga con mắt rất vui, nói “ông tướng” tui biết mình tiêu tiền phơi cá của má, nó hứa tằn tiện và học giỏi. Tui nghe cũng mừng. Riêng chị Ngọc thì tếu táo nói hồi nhỏ, bữa đầu dẫn con vào lớp 1, tui phải cầm roi vì nó cứ bám áo mẹ không chịu đi. Giờ vô đại học, nó chạy rật rật, tui theo nó mà khờ nhơn luôn. Tiếng cười của các chị giòn tan và trong trẻo.
Có một điều khiến các chị than vãn là chứng đau lưng. Tôi làm mối đắp lá này lá nọ. Nghiêm túc được một lát, các chị lại đùa, nói cuối ngày nhận tờ hai trăm… đắp lên lưng là hết đau ngay! Ở đây các chị nhận lương theo ngày. Cứ mười ngày, mỗi người được khoảng hai triệu, lại trích một nửa gởi cho con ngay. Họ không dám để tới cuối tháng, sợ thòm thèm, tiêu bậy thì chết.
Đang chuyện, chợt có người nhắc: “Hai giờ rồi. Trở cá”. Các chị đội nón lên, đi ra bãi nắng. Những cái bóng đen gầy đổ dài trên cát bỏng. Tôi chợt nghĩ có thể ngay trong lúc này, những đứa con của họ đang lên giảng đường.
Trần Cao Duyên 
Như là huyền thoại (Hồi ức về tuổi thơ tôi) của Vũ Ngọc Liêm
Những cây tre, cây quẹo,cây ngay làm cột. Những tấm tranh, tấm cùn, tấm mới lợp mái. Những khúc gỗ, khúc dài, khúc ngắn đỡ lên sụp xuống kê làm bàn ghế. Học trò lâu nhâu một đám, đứa còn mũi dãi lòng thòng mặc quần hở rốn đến đứa đã mọc lông tơ trên mép, giọng nói ồm ồm. Thầy giáo vừa dạy học vừa… bán kẹo! Học trò gọi thầy bằng…anh. Người ta thường nói “mài mòn đũng quần trên ghế nhà trường” thật đúng với chúng tôi về phương diện nghĩa đen. Chúng tôi chỉ được tập viết, đọc chữ và làm các phép tính cộng -trừ -nhân- chia cỡ đến ngưỡng lớp Bốn bây giờ. Đứa nào đạt đên ngưỡng ấy là coi như thành “chánh quả”.Muốn học thêm nữa mà không có điều kiện đi xa thì đành chịu. Mà có mấy ai đi xa vì sự học? Ông bà cha mẹ chúng tôi quả quyết rằng chỉ cần biết đọc, biết viết là đủ. Thầy hết chữ rồi. 



Tuổi thơ thì dài mà con dường học lại ngắn như vậy cho nên chúng tôi cứ từ từ mà học.Quần qua đảo lại cũng cứ nhân- chia - trừ - cộng; cũng tập viết-chính tả mà dần đến nhừ. Điều đáng nói hơn là những điều hay, lẽ phải trong từng trang sách chúng tôi không được giảng cho.Vả lại,hình như các “anh” cũng không có sách. Đó là tình hình tuổi thơ lứa chúng tôi vào hồi thập niên sáu mươi thế kỉ trước, những đứa bé đi học, tại miền quê này. Phải chăng vì thế mà phần lớn người dân quê tôi đều thất học. Cộng với tập quán người miền biển tính tình nóng nảy, bộc trực mà địa phương quê tôi một thời “được” người khắp huyện ngán ngẫm phong cho cái “hùng danh” : Phổ Trời ? Trong các cuộc va chạm, không cần biết đến các chuẩn mực nào hết, phần hơn, phần đúng phải thuộc về họ. Ngang ngạnh quá mà! 

Sau ngày giải phóng tình hình trở nên sáng sủa hơn nhiều, nhưng hãy còn đó những bộn bề, bất cập. Con em nhân dân đi học ngày càng đông. Trường lớp mở ra khắp thôn, khắp xã. Tình trạng phân tán, ca trưa không tránh khỏi. Nhưng dẫu sao thì các em nhỏ bây giờ vẫn may mắn hơn lớp chúng tôi ngày trước nhiều lắm. Thầy cô giáo được điều động từ khắp các nơi trong tỉnh về đây giảng dạy. Lại thêm Trường Cấp hai cũng được mở ra . Lần đầu tiên quê tôi mở mày mở mặt với thiên hạ nhờ đã có tổ chức trường lớp cho con em thuộc hệ thống giáo dục của Nhà nước. Trẻ con phen này tha hồ mà học. Rồi ngày tháng dần qua, từ chỗ toàn xã gồm 12 thôn trải dài trên địa bàn 10 km, địa hình cách trở vì đồi núi, đò giang mà chỉ do một Ban giám hiệu của Trường Phổ thông cơ sở quản lý; đến năm học 1978-1979 được chia làm hai, rồi chia làm ba vào năm học 1979-1980. Đến năm học 1989-1990 và mãi đến bây giờ theo yêu cầu chung, đã định hình một trường Phổ thông cơ sở và ba Trường Tiểu học trong xã. Trường Phổ thông trung học liên thông ba xã cánh Nam huyện đặt tại xã trung tâm(Phổ Khánh) cũng đã được thành lập vào năm 1977. 

Nếu như sau ngày giải phóng ở quê tôi (xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) phải đốt đuốc đi tìm người có bằng Tú Tài thì đến hôm nay trình độ ấy đã trở thành phổ biến. Bây giờ thì trường lớp đã khang trang lắm rồi, tuy phòng ốc chỉ mới là những gian nhà cấp bốn. Bằng sức bền bỉ của nhân dân, ý chí kiên trì của lãnh đạo hợp lực mà nên.Người quê hương làm ăn nơi xa khi về thăm cũng góp thêm vào luồng gió mới. Nhận thức của người dân quê tôi mỗi ngày một khác xưa, tiếp cận được với sự tiến bộ của thế giới bên ngoài.Từ nhận thức đến với tấm lòng sẵn có là một khoảng cách thật gần. Bà con chắt chiu gom góp từng năm để cải tạo,xây dựng từng phòng học cho con trẻ. Từ đó động viên được thầy tận tụy,trò chăm ngoan. Hằng năm , qua các phong trào thi đua cấp huyện, cấp tỉnh các em nhỏ đã từng bước chứng minh cho sự đi lên của quê mình. Năm nào cũng có nhiều học sinh giỏi đạt giải cấp huyện. Học sinh giỏi cấp tỉnh thỉnh thoảng cũng có những em đạt giải cao. Phong trào viết báo Đội đã xuất hiện một cây bút quen thuộc trên báo Thiếu niên tiền phong. Liên tục đạt thành tích cao trong các phong trào văn nghệ, làm báo tường, báo liếp, thi kể chuyện, thi tiếng hát tuổi thơ, vẽ tranh theo chủ đề… Các em được giáo dục tốt trong việc ăn nói, cư xử đúng phép. Đặc biệt việc nhặt của rơi trả lại người mất đã xuất hiện nhiều tấm gương cảm động, đáng ca ngợi. 

Việc học tập, đến trường của mỗi em nhỏ giờ đây là điều tất yếu của mỗi gia đình khi em đến tuổi. Quan niệm “chỉ cần biết đọc biết viết” đã chìm sâu vào dĩ vãng, nhường chỗ cho những ước mơ mới mẻ lớn lao. Số lượng các em thi đỗ và đi học Đại học ngày càng đông. So với những điển hình tiên tiến hay những vùng đất học thì quê tôi hãy còn cách xa nhiều lắm. Nhưng điều đáng nói là nơi đây từ chỗ không mà thành có. Rồi từ chỗ có, dần dần tích cóp để mong có được nhiều hơn. Từ lúc nào cái biệt danh “Phổ Trời” đã không còn nghe ai nhắc đến nữa. Với các em nhỏ bây giờ, một lần tôi thử hỏi: “Các em có biết xã Phổ Trời là xã nào không ?”. Các em ngơ ngác rồi tỏ vẻ mong đợi, tưỏng chừng như sắp được nghe tôi kể về một huyền thoại. 

Vũ Ngọc Liêm ghi chú: Khi bài này được đăng lên trang web sahuynh.net thì Sa Huỳnh đã chia ra làm hai xã là Phổ Thạnh và Phổ Châu. Riêng xã Phố Thạnh đã có 1 trường mẫu giáo, 3 trường tiểu học tầng hóa khang trang, trong đó có một trường chuẩn quốc gia và một trường THCS đạt chuẩn quốc gia.

Vũ Ngọc Liêm
theo: sahuynh.net
Thú chơi cổ ngoạn với thầy Phạm Văn Thành,  giáo viên dạy văn trường THPT số 2 Đức Phổ (Quảng Ngãi) là cơ duyên để đánh thức tâm hồn hơn là thu lợi về vật chất. 

Khoảng năm 1990, trên đường đi dạy học về, tình cờ thấy người bạn cũ ở xa về quê ăn Tết không ngần ngại chi nhiều tiền mua một bình gốm do ngư dân vớt dưới biển đem về, thầy Thành hỏi: “Mua làm gì vậy?”. Ông bạn trả lời: “Chỉ biết đó là đồ cổ. Chưa biết thời nào, nhưng thấy là lạ, hay hay nên cứ mua về để chưng chơi”. Thế là từ đó, thầy Thành bỗng yêu thích đồ cổ và nảy sinh ý muốn sử dụng thời gian rảnh rỗi để nghiên cứu và sưu tầm cổ vật

Thầy giáo Phạm Văn Thành với không gian trưng bày đồ cổ tại tư gia. Ảnh: Báo Quảng Ngãi.
Gia đình thầy Thành ở ngay vùng biển Sa Huỳnh (Phổ Thạnh), nơi vinh dự được lấy tên đặt cho dòng văn hóa cổ nổi tiếng cách nay hàng nghìn năm - văn hóa Sa Huỳnh. Thỉnh thoảng người dân ở đây vẫn còn nhặt được một số hiện vật thuộc dòng văn hóa này lộ ra trên bãi cát hoặc đào từ dưới đất lên.
Ngư dân Sa Huỳnh thời nay cũng mua sắm được nhiều tàu thuyền có công suất lớn, vươn ra đánh bắt ở các ngư trường xa, và thường lặn vớt được rất nhiều cổ vật ở những vùng biển khác nhau đem về. Nhưng họ không biết hết giá trị của nó nên sẵn sàng bán giá rẻ.
Còn thầy Thành, vốn mê đồ cổ nên khi nghe tin ở đâu có người vớt được cổ vật dưới biển lên là thầy liền tìm đến xem, mua cho bằng được. Chẳng bao lâu thầy đã sở hữu được nhiều món đồ vớt từ biển vừa sâu tuổi, lại rất có giá trị về mặt nghiên cứu như Kendi là loại bình đựng nước có vòi không quai rất hiếm thấy, hay là bình đựng nước thời nhà Đường (Trung Quốc) hoa văn đắp nổi hình lá đề và rất nhiều loại vò, hũ, chén, đĩa... cốt gốm của các thời đại khác nhau.
Trong đó gốm Chu Đậu là dòng đồ gốm được thầy Thành đặc biệt quý trọng. Nó niên đại từ thế kỷ 14-15, và được vớt lên từ con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam. Đây là dòng đồ gốm Việt - tinh hoa của văn hóa nước nhà. Gốm Chu Đậu thể hiện tài nghệ điêu luyện và tâm hồn phóng khoáng thanh cao của người thợ gốm Việt vào thời đại ấy.
Trong khoảng không gian dành để trưng bày cổ vật tại nhà thầy Thành, nổi bật lên gần một trăm món đồ gốm Chu Đậu gồm nhiều loại hình men mực khác nhau như bình Kendi, bình Tỳ bà, tráp phấn men tím, các loại hũ, tô, đĩa... vẽ chim, hoa và tượng thú vẽ trắng xanh hoặc men màu tam thái.
Để có được bộ sưu tập đồ gốm Chu Đậu phong phú, đa dạng như thế thầy Thành đã tốn rất nhiều công sức. Thầy ra tận vùng biển Cù Lao Chàm mua lại của người quen. Còn lại phần nhiều là thầy mua của các ngư dân Quảng Ngãi lặn vớt đem về và trao đổi qua lại với anh em thuộc giới chơi đồ cổ trong và ngoài tỉnh.
Thầy Thành cũng rất thích sưu tập đồ sứ cổ còn sót lại trong dân, nhất là đồ sứ men trắng vẽ xanh thuộc các triều đại của thời Minh, Thanh (Trung Quốc) và dòng đồ men lam Huế do triều Nguyễn ký kiểu cho người Tàu được sản xuất tại các lò gốm nổi tiếng của Trung Hoa.
Dưới thời bao cấp và những năm đầu của thời kỳ mở cửa, các loại cổ vật này còn dễ tìm thấy trong dân. Nhưng sau một thời gian dài "chảy máu cổ vật" ra nước ngoài, thì thị trường đồ cổ trong nước và ở Quảng Ngãi ngày càng hiếm dần. Đến khi có Luật Di sản cho phép tư nhân nghiên cứu và sưu tầm cổ vật để xã hội hóa việc bảo vệ di sản văn hóa vật thể thì đồ sứ cổ, đặc biệt là đồ sứ men lam Huế, đồ sứ quan dụng và các loại đồ thờ tự... đã trở nên hiếm thấy và rất khó sở hữu, vì giá mỗi món đồ như vậy đã tăng lên rất cao, có khi lên đến nhiều chục triệu đồng một món.
Thế nhưng, với tính kiên nhẫn tích góp bằng đồng lương giáo viên và chịu khó lặn lội đến nhiều nơi tìm kiếm sưu tầm, thầy Thành đã sưu tập được gần 100 món đồ sứ trắng xanh, bao gồm các loại đĩa trà, chén trà, bình trà, lọ cắm hoa... với nước men và nét vẽ rất đẹp, như bình điếu hút thuốc lào, hiệu đề chữ Thọ, thuộc dòng đồ men lam Huế và nhiều đĩa trà vẽ sơn thủy, hiệu đề Ngoạn Ngọc, Mỹ Ngọc...
Thầy Thành đã dành một khoản tiền không nhỏ để mua sắm nhiều loại cổ vật là đồ thờ tự như lư hương, đèn đồng, hoành phi, liễn đối... tạo ra một không gian thờ tự tổ tiên, ông bà trong gia đình của mình một cách nho nhã, trang nghiêm, quý phái.
Biết thầy Thành thích chơi đồ cổ, nhiều người tò mò hỏi: "Chơi như vậy thì thầy lợi được những gì?". Thầy đã không ngần ngại trả lời: "Kiếm lợi về tiền bạc thì không có nhiều, nhưng về tinh thần thì được rất nhiều". Nhờ nghiên cứu và sưu tầm những hiện vật của quá khứ nên vốn hiểu biết của bản thân không ngừng được bổ sung cả về chiều sâu lẫn bề rộng, đặc biệt là các lĩnh vực có liên quan đến lịch sử, văn hóa nước nhà và các nước trong khu vực, từ đó hỗ trợ thầy rất nhiều trong việc truyền đạt kiến thức về môn văn cho học sinh.
Theo Báo Quảng Ngãi
Quê tôi có câu ca: Sớm mai lên núi quơ củi đốt than/Chiều về xuống biển đào hang bắt còng. Thầy dạy văn “tán”: “Hình ảnh bắt còng vẽ lên những phận người lam lũ”. Thằng bạn rỉ tai: “Ổng nói kệ ổng, bắt còng thì mắc mớ gì tới phận người”. Còn tôi, hai tiếng “bắt còng” làm tôi nôn nao, cứ mong buổi học chiều qua nhanh, đêm sập xuống để chúng tôi chạy còng.

Nhóm chạy còng chúng tôi có sáu đứa, chạy theo “đội hình 1-4-1” (nói thế cho có vẻ bóng đá). Một đứa cầm đuốc chạy trước. Tiếp theo là bốn đứa có nhiệm vụ săn còng. Một đứa lệt quệt xách cái thùng thiếc đựng còng chạy sau cùng. Còng mà chúng tôi bắt là còng quạt, loại còng thường “vẽ” hình cái quạt trên miệng hang.  

Ảnh: Trần Cao Duyên

Bãi biển tối om bỗng rực lên ánh đuốc. “Chạy”, đứa cầm đuốc hô to. Những con còng rời hang đi tìm mồi bỗng bắt sáng, ngơ ngác giương đôi mắt tròn nhìn sững chúng tôi trong giây lát rồi ba chân bốn cẳng chạy tứ tán. Bốn “tiền đạo” lập tức đuổi theo, vừa chạy vừa chụp vừa reo hò inh ỏi. Còng vừa bắt được bỏ ngay vào thùng để rảnh tay chụp con khác.

Còng quạt ranh mãnh lắm, nó lừa chúng tôi bằng “động tác giả” rất nhuyễn. Đang chạy thẳng, cu cậu bất ngờ rẽ ngoặt khiến cặp giò chúng tôi tréo ngoe. Có con đang chạy tới thình lình chạy lui. Chúng tôi dặn nhau “bọc lót” kịp thời mới tóm được.

Hôm nào gió nhẹ, còng nhiều, đứa cầm đuốc kiêm luôn việc bắt còng bằng một tay còn lại. Ham quá, chúng tôi để rối hàng ngũ, chạy loạn xà ngầu. Nhiều khi chỉ một con còng mà hai ba đứa lao vào nhau y chang pha tranh bóng của cầu thủ Ngoại hạng Anh. Đùng một phát, chúng tôi văng ra. Đứa giập môi, đứa gãy răng, đứa u đầu. Còn con còng thì nhìn chúng tôi vẻ khinh khỉnh, dường như nó nói “chúng mày ngu thế” trước khi vụt biến vào chân sóng.

Tắm rửa xong, chúng tôi ngồi tách mai còng, ướp gia vị, chiên sơ rồi cho vào nồi cháo đã bắc sẵn ở góc sân.

Gió biển mang hương cháo còng đi dạo. Mấy chị hàng xóm học cấp ba ôn bài khuya, không hiểu sao buông bút hát vang đêm đêm ngửi mùi hương... Lũ đàn em thơm thảo sang mời. Có mấy chị, mâm cháo còng “duyên dáng” hẳn lên. Chúng tôi có đứa vừa ăn vừa sờ cục u bầm tím trên trán. Một chị đùa, nói tụi bay lấy còng sống giã nhuyễn rồi đắp lên, nó xẹp liền hà.

Tiếng bánh tráng giòn giòn, tiếng húp cháo xì xụp, tiếng nhai còng rào rạo, tiếng nói cười râm ran làm cho đêm lao xao mãi đến tận khuya.

Trần Cao Duyên
(Đức Phổ Online) Bây giờ là khoảng 1970. Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, lính Mỹ đã về đóng quân nhiều nơi trên địa bàn huyện Đức Phổ đã được 4 năm. Gia đình tôi tản cư về quê ngoại ở thôn Vùng 5 xã Phổ Thuận ( Hồi đó gọi là xã Phổ Long ), gần đó có 1 đại đội lính Mỹ đóng quân. Sở chỉ huy đại đội Mỹ có 1 cột ăng ten cao, ban đêm đèn đỏ nhấp nháy. Sáng, chiều nào máy bay HU-1A cũng hạ xuống, bay lên . Nhà ông ngoại tôi ở cách sở chỉ huy một cái vườn, nên tôi có điều kiện quan sát cuộc sống của lính Mỹ đầy đủ hơn.


Lính Mỹ rà mìn trên QL1 thuộc địa bàn cánh bắc huyện Đức Phổ
Mỗi buổi, sáng nào cũng vậy khoảng gần 8h là tụi bán coca , thuốc lá và mấy cô gái điếm ở đâu đi tới . Các anh choai choai thì đến bán thuuốc lá và coca cho lính Mỹ . Các cô gái điếm thì đu hẳn lên mình tên Mỹ đùa cợt và nói : “ Bum bum , bum bum ! “.
Một hôm , có mấy tên lính Mỹ đang ở nhà ông ngoại tôi, thì mấy cô gái điếm cũng vừa tới . Trên tay cô nào cũng mang một túi xách nhỏ . Một cô sà lại ngay một tên Mỹ như là đã quen biết từ trước .
- Bum bum , bum bum ? Cô gái ôm tên Mĩ và chỉ vào mình nói
- Bum bum , bum bum , yes , yes ! tên Mĩ cười và đáp

Lính Mỹ và gái điếm
Cô gái nhảy cẩng đu lên cổ tên Mỹ ra chiều mừng rỡ lắm , rồi tên Mỹ dắt tay cô gái đi lại cái chuồng trâu của ông tôi . Trâu đã được anh tôi thả đi ăn ngoài đồng rồi , Trong chuồng trâu , một bên chái có cái giường tre mà ông tôi hay lấy ra ngoài sân nằm nghỉ mát vào ban đêm . Tôi vội vàng chạy theo để xem Mỹ nó “ bum bum “ là sao, thì nghe tiếng ông tôi gọi giật lại :
- LS. vào nhà ngay ! Mày đi theo chúng làm gì thế ?
Tôi phải quay lại đi vào nhà , thật là tiếc vì không xem được “ bum bum “. Chiều đó tôi thấy ông tôi đem chiếc giường tre ra đốt cháy tan tành và nói : “đốt đi đồ ô uế ! “
Mấy hôm sau , thấy tụi lính Mỹ đứng với mấy cô gái điếm ngoài ngõ , tôi và thằng Bé ở gần nhà liền đi tới gần để nghe chúng nói gì . Một cô gái hơi già và đen đứng trước mặt một tên Mỹ cao to, nói :
- You ,Bum bum , bum bum ?
Tên Mỹ khoát tay nói : No , no ! Cô gái đỏ mặt đi đến chổ những tên Mỹ gần đó .
Một lát sau có một cô gái khác trẻ đẹp hơn cô gái trước đang đi tới . Tên Mỹ vẫy tay gọi lại rồi nói một tràng gì đó . Cô gái tươi cười ôm ngang hông tên Mỹ rồi nói :
- Yes ! bum bum , bum bum !
Nói rồi , tên Mỹ và cô gái đi xăm xăm ra phía sau xóm . Thằng Bé cười to và nói :
- Đi , đi , chạy nhanh theo xem bum bum !
Tôi cũng hồ hởi chạy theo. Lần này chắc chắn là được xem bum bum rồi . Ra đến dãy gò mã, tên Mĩ và cô gái điếm dừng lại. Tôi và thằng Bé chạy lại chổ mấy anh lớn đang thả bò ngồi chơi cách tên Mỹ khoảng 5- 60 m. Tôi rủ các anh ấy chạy lại gần để xem. Một anh cười bảo :
- Tụi bay nhỏ lại gần xem đi, chứ tụi tao lớn nó không cho lại gần đâu .


Lính Mỹ tại Gò Hội
Tôi và thằng Bé đi lom khom bước lại gần khoảng 10m, núp sau cái gò mã. Tên Mỹ đã cởi áo, quay lại thấy hai đứa tôi liền quờ khẩu súng lên đạn cái “ Rốp “. Tôi và thằng Bé hoảng hồn, ba chân bốn cẳng chạy thục mạng về chổ mấy anh chăn bò ngồi khi nãy, miệng thở hổn hển , mặt không còn chút máu . Mấy anh đó thì ngồi ôm bụng cười như nắc nẻ. Chắc mấy anh ấy có lần cũng bị Mỹ rượt chạy rồi nên bây giờ lừa lại tụi tôi. Rồi cả đám cũng ngồi đó xem từ xa và bình luận cười đùa theo từng động tác của tên Mỹ và cô gái điếm. Xong chuyện, thấy tên Mỹ móc túi trả tiền cho cô gái. Không biết là bao nhiêu nhưng có lẽ nhiều tiền lắm thì các cô ấy mới chường mặt ra làm cái chuyện ấy trước mặt mọi người .


Nhà thờ Cha Bích ở Trà Câu 1970
Sau đó nhiều lần nữa , tôi cũng đều xem “ bum bum “ từ xa như thế ,còn lính Mỹ thì xem chuyện ấy là nhu cầu hằng ngày như cơm ăn , nước uống vậy .
Theo FB Thầy Thạch Lam

(Đức Phổ Online) Trưa hè. Đường quê im ắng trong cái nắng oi nồng. Vậy mà tất cả chợt mát rượi khi tiếng rao “Ai... xu xa” lanh lảnh.



Ảnh: Trần Cao Duyên

Dưới bóng dừa, gánh xu xa của chị được vây bọc bởi trẻ con và cả người lớn. Nhiều khi chị chỉ dừng lại một chỗ thôi là gánh xu xa hết nhẵn. Chị tươi cười, quày quả quang gánh về nhà để một lát sau lại “Ai... xu xa” ở một xóm khác.

Đã nhiều năm rồi tôi vẫn không sao quên câu ca mà trai làng thường hay ghẹo chị: Xu xa ít vốn nhiều lời/Anh về bỏ vợ trao đời cho em.

Bắt đầu từ tháng hai âm lịch cho đến cuối hè là mùa xu xa. Theo những cơn nồm ngoài khơi thổi về, những bè rong biển cũng dập dềnh vào lộng. Người ta vớt rong lên (quê tôi gọi là rau câu), đem về “giặt” sạch hoặc ngâm trong nước cơm, để qua đêm rồi phơi khô làm nguyên liệu nấu xu xa.

Cho rau câu vào nồi, đổ nước vừa ngập rau, bắc lên bếp lửa riu riu và khuấy cho rau nát nhừ. Trút nồi rau vào túi vải, ép lấy nước. Khi nguội hẳn, nước rau đông lại thành xu xa. Giờ thì thắng đường với ít gừng giã nhỏ làm nước chan. 

Trưa, đám trẻ làng thường lận lưng vài nghìn đồng chỉ để chờ chị “Ai... xu xa”. Nhìn đôi tay thoăn thoắt, từ lúc mở nắp xoong lia một nhát dao vào nồi, đến khi miếng xu xa nằm gọn trong chén chỉ trong chớp mắt cũng đủ thích rồi. Tiếng dao xén xu xa chạm vào bát sành nghe lách cách thật vui tai. Nước đường được chị rưới nhẹ nhàng vào chén xu xa từ cái gáo làm bằng đốt trúc nhỏ xíu, quây thành những vòng tròn đồng tâm rất khéo. Nên có thể nói người ăn xu xa “ăn” cả những thao tác lành nghề của chị. 

Ăn xu xa, “ăn” cả câu hỏi đầy vẻ chăm sóc của chị: “Có lạt không mấy đứa? Chị thêm chút đường nghen”. Mười đứa thì cả mười đều... ăn gian, húp hết nước đường trong chén để được chị chan thêm.

Ăn xu xa, nghe trong cái ngọt lành mát dịu là ít gừng cay lẫn mùi rong biển. Đấy là vị quê nhà pha chút xa xăm, để có cớ cho anh học trò ở phố về “khoe chữ” với chị, nói xu xa mà hóa thật gần.

Ăn xu xa, “ăn” cả ánh trưa long lanh trong chén từ tàu dừa rớt xuống. Ăn xu xa, “ăn” cả gió từ chiếc nón của chị nhẹ nhàng quạt mát cho những khuôn mặt đỏ lừng vì nghịch nắng của lũ trẻ đường quê.

Bởi thế, dù xu xa nhà tự nấu cũng ngon nhưng người quê vẫn cứ thích gánh “xu xa đường làng” của chị. Mới hay, cái sự ăn ngon cũng thật lắm điều.

Mùa xu xa từ khi nào đã lắng trong tâm thức quê làng. Đám trẻ năm ấy giờ khôn lớn, đi tứ tán thành người phương xa mang nỗi nhớ xu xa. Ước một lần dưới bóng dừa loang lổ nắng, được nghe lại tiếng rao “Ai... xu xa” xao động những trưa hè. 

Trần Cao Duyên
theo: sahuynh.net
*Tiêu đề đã được 76h1.blogspot.com đặt lại
EM CÓ VỀ QUẢNG NGÃI VỚI ANH KHÔNG?
(Thơ)



Em có về Quảng Ngãi với anh không?
Khi mùa xuân còn ngập ngừng ngoài ngõ
Đất miền trung đã qua mùa mưa gió
Nụ hoa vàng xoè nắng sóng bên sông 



Em có về Quảng Ngãi với anh không?
Trong tháng Chạp nước sông Trà xanh lắm
Tuổi thơ anh bao lần chung tắm
Lá thuyền nưa còn trôi mãi giữa dòng. 



Em nhớ về đừng nở để anh mong
Khi lang thang giữa phố phường Quảng Ngãi
Gặp kẹo gương thơm lừng môi con gái
Ngọt câu hò lơ đãng bến Tam Thương. 



Em nhớ về hởi người thương
Bờ xe nước tạc thơi gian đó
Ai cắt cớ nói chi bao điều khó
Đá La Hà vẫn trỗi mọc còn kia. 



Dẫu lòng ta không một chút cách chia
Anh hái tặng em đóa sen hồng Liên Chiểu
Và Quảng Ngãi khi em về sẽ hiểu
Cõi lòng anh là ngọn sóng sông Trà

(Vũ Nhụy Nhung)
sưu tầm
Chức năng bình luận bằng facebook tạm đóng. Apps comments Facebook sẽ sớm cập nhật để quản lý và chặn comments được tốt hơn.
Click để tìm kiếm những bài đăng bạn chưa xem!

Đức Phổ Online trên Facebook